Kinh vu lan, báo ân cha mẹ


Kinh vu lan, báo ân cha mẹ

“Mộc tùng căn trưởng, thủy tự nguyên lưu”

Nghĩa là:

Cây sanh trưởng nhờ gốc rễ

Nước có nguồn nước mới chảy ra.

Cây có cội mới đơm bông kết quả

Nước có nguồn mới toả khắp rạch sông.

Phàm làm người ai ai cũng có ông bà cha mẹ nuôi ta ăn học lớn khôn mới thành nhân chi mỹ.

Advertisements

Mừng Vu Lan nghe Hà Phạm Anh Thư hát


Clip: Trích trong VCD Hương Từ Bi (2009)

Chùm Thơ Tặng Mẹ Mùa Vu Lan


Thay đổi hướng đi

Một gã nhà quê thứ thiệt
Tôi có thói quen đi trên những
con đường đất ven nội thành
Chẳng bao giờ có đèn đỏ, đèn xanh
An toàn vì vắng người qua lại
Nhưng tốn thời gian.

                 ***
Nghe lời mẹ tôi vẫn đi những con đường đất
“Chậm mà chắc ăn”
Trời đổ mưa tầm tã
Tôi trượt chân vì suy nghĩ ấu trĩ của mình
Nằm viện mấy hôm.

                ***
Từ đó, tôi bỏ thói quen đi những con đường đất
Tiến dần lên đại lộ thênh thang
Có chút ngỡ ngàng,
Run run khi dòng người chen nhau tiến lên phía trước
Một ngày kia, tôi không thể nào tin được
Mình đang chạy trên đường cao tốc.

                ***
Mẹ tôi tặc lưỡi:
“Chậm hay nhanh là ở chính đôi chân con ạ!”

               ***

Tôi thấy mình lớn hơn.

Rút từ “Tôi đi tìm tôi” NXB Trẻ 2010

1313285827_cah me

Ngày của mẹ
Phố rực rỡ sắc hoa
dòng người đua chen đi mua quà tặng mẹ
con ngồi lặng lẽ bên chiếc computer trong quán net
pots một entry lên blog: “Mẹ yêu! Con thương Mẹ nhiều!”

                ***
Hàng triệu bà mẹ trên trái đất này hạnh phúc biết bao nhiêu
Mẹ tôi vẫn dò dẫm những bước chân trên cánh đồng trũng nước
kiếm cái tôm, cái tép; chăm cây lúa, luống rau…
đổi một đời khổ đau mua cho tôi con chữ

               ***

Mẹ ơi!con thèm đuợc nghe giọng Mẹ
thèm được nắm bàn tay gầy guộc của Mẹ
được thấy niềm vui rạng ngời trên những vết chân chim
như nụ cười của mẹ ngày con vào Đại học.

               ***

Chiều nayrời chiếc computer con lạc giữa biển người
nhớ mãi một entry
“Mẹ yêu! con thương mẹ nhiều!”

Mẹ !

Nếu tính về không gian 
Tôi đi nhiều hơn mẹ
Từ xứ Nghệ vào Nam
Dài ngút mấy trăm cây số.
Còn mẹ tôi
Một đời chỉ loanh quanh
Nơi ruộng , đồng, quê, chợ…
Chẳng có cọc tiêu đo cây số bao giờ.

         ***
Nếu tính ước mơ

Tôi có nhiều hơn mẹ
Nào tình yêu, hạnh phúc, bạn bè…
Còn mẹ tôi chỉ ước một điều
Sao cho gia đình no đủ.

         ***

Nếu tính sự mất còn
Tôi được nhiều hơn mẹ
Nào học hành, sống không chiến tranh…
Mẹ tôi một đời không đèn sách
Tuổi học hành  chìm giữa đạn bom

         ***

Nhưng nếu ai hỏi tôi và mẹ
Ai đi nhiều hơn ai?
Ai có nhiều hơn ai?
Ai được nhiều hơn ai?
…?
Tôi trả lời rằng mẹ
Bởi một đời mẹ vẫn bên

Rút từ Blog Thời Sinh viên NXB Thanh Niên 2009.

Mùa đi

Mùa đi
Để lại cánh đồng trơ đầy gốc rạ
Chú cua giương tròn mắt
Tiếc tháng ngày qua đắm mình trong nước mát.

***

Nắng
Gió
Thổi khô tháng ngày
Thân mẹ hao gầy, tóc ngả màu mây
Lưng còng như bông lúa chín.

***
Mùa đi
Để lại hạt vàng cho bao nhà no đủ
Tôi gánh thơ tôi đi trên vườn chữ
Bán để mua tháng ngày
Trả mẹ tôi một đời lam lũ
Gánh bao mùa
Mua con chữ cho tôi.

***

Nhưng tháng ngày làm sao tôi mua nổi?
Ngày lại ngày mẹ tôi già mất thôi
Rồi mai đây chú cua đồng giương tròn đôi mắt
Biết tìm đau dòng nước mát đắm mình?

    Rút từ  Văn Nghệ trẻ số (711)

1313285864_me

Thương nhớ ở hai miền

Chiều nay về ngang ga xép
Còi tàu rúc lên ngong ngóng phía quê nhà.

***

Bao năm rồi ta ăn tết xa quê?
Nhớ lắm phiên chợ cuối năm
Trong tiết trời se lạnh
Trẻ con ngậm bóng bay miệng thắm hồng son đỏ

***

Các cụ già quây quần bên hàng tranh giấy dó
Hương hoa thơm lừng
Mẹ mua lá dong về nội gói bánh chưng
Cha mân mê cành đào Nhật Tân chớm nở…

***

Kẻ đi xa nhiều năm
Mắc nợ!
Cái tết quê đầm ấm sum vầy.

****

Dẫu biết rằng ta ở lại nơi đây
Nhưng chiều nay mẹ vẫn ra góc sân trông ngóng

Còn thời gian mẹ ta còn hi vọng
Chiều cuối năm thương nhớ ở hai miền.

Áo Trắng số 2 (ra ngày 15-1-2010)

Ngóng mẹ!

Tháng Ba

Con ngồi ngóng mẹ

Chợ làng khuất phía hàng tre

Chưa về?

***

Một đời

Quang gánh nón mê

Bước cao

                  thấp

Khắp đường quê dãi dầu…

***

Tha phương

Bắc những nhịp cầu

Từ thành thị

Về tới đầu Tháng Ba

***

Con  ngồi ngóng mẹ

Chợ xa

Làng xưa nay phố

Nhạt nhòa mắt cay!

Rút từ Văn thơ Việt tập 2 NXB Văn học 2011.

Nguồn :  Đặng Thiên Sơn

Vu Lan: Nghĩ đến tấm lòng Cha Mẹ


Những năm gần đây, thành phố Las Vegas có một tiệm cá nướng da giòn rất ngon, tôi đã được ăn qua một hai lần, những lần sau, khi trở lại ngày Chủ Nhật, rất bực mình vì tiệm ăn treo bảng đóng cửa.

Tất cả tiệm ăn ở các vùng đông người Việt đều sống nhờ hai ngày cuối tuần, thế mà ông chủ nhỏ này, một kỹ sư bỏ nghề, lại không thèm mở cửa tiệm một ngày đông khách, nhất là tại thành phố cờ bạc, mà phần đông người Việt chúng ta hay đến đó vào ngày Chủ Nhật? Trong một lần trở lại tiệm ăn của ông, chủ nhân mới cho biết lý do: “Vợ chồng cháu phải đóng cửa ngày Chủ Nhật để có thời giờ gần gũi, chăm sóc các cháu ở nhà. Vì cuộc sống, đi làm suốt tuần, nhiều khi cháu không có thời giờ nhìn đến các con!”

Người Mỹ đã bắt đầu thấy sự quan trọng trong việc dạy dỗ gần gũi con cái, sợ con cái dễ bị hư hỏng, không thể giao phó hoàn toàn cho nhà trường. Nhiều gia đình đã thu xếp cho các bà mẹ ở nhà lo việc nội trợ và đưa đón, chăm sóc con cái, và chuyện này đã trở nên bình thường trong đời sống Mỹ, không khác chi những gia đình người Việt ngày xưa, mà hầu hết phụ nữ trong gia đình đều ghi nghề nghiệp của mình là “nội trợ!” Thế mới biết biết lòng cha mẹ lúc nào cũng hy sinh cuộc sống của cá nhân mình, dù phải chật vật, khó khăn để nghĩ đến hạnh phúc và tương lai của con cái. Khi cha mẹ đến tuổi già (cũng như chúng ta còn con dại ngày trước), mấy ai đã bỏ bớt công việc, bớt lại chút phúc lợi để có thời giờ chăm sóc, gần gũi cha mẹ, như ngày trước cha mẹ đã lo cho mình.

Phải chăng vì con cái đó là con cái chung của cả hai người cả cha lẫn mẹ, trong khi cha mẹ lại là cha mẹ chung của cả năm bảy đứa con. Năm bảy đứa con đó lại có thêm vợ, thêm chồng, bên nội bên ngoại nên không ai có trách nhiệm về cha mẹ cả, kiểu “cha chung không ai khóc!” Nhiều gia đình cha mẹ chỉ có một hai con, đôi khi cha mẹ lại được chăm sóc thương yêu chu đáo hơn là một gia đình đông con. Ðứa lớn tỵ nạnh đứa nhỏ, đứa nhỏ lại cho đó là trách nhiệm anh chị, suy nghĩ hơn thiệt về giàu nghèo phương tiện. Cha mẹ bên con trai thấy con dâu nuôi mẹ trong nhà nhiều khi không vừa ý, bên nhà gái thấy con mình phải lo săn sóc cung phụng cho cha mẹ chồng thì sinh bất mãn.

Ngày xưa ở phương Ðông, đạo hiếu rất được đề cao và tôn trọng, “nhị thập tứ hiếu” đã được in thành sách để dạy đời, mà ở Việt Nam trong nhân gian vẫn có những câu ca dao cay đắng nói về tình con cái đối với cha mẹ: “Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày!”

Ông Mạnh Tử có dạy: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu chi đại” (có 3 điều bất hiếu, không có con là điều nặng nhất), hai điều còn lại là cha mẹ già không chịu nuôi nấng và làm điều bậy để hoen ố tới gia phong. Ngày nay chuyện con cái không sinh con là điều chúng lựa chọn, cha mẹ cũng không mong có con để nối dõi tông đường, vì ngày xưa lấy lễ làm chủ yếu, người xưa lo sợ khi cha mẹ, ông bà qua đời, không có ai cúng giỗ, hương khói nhưng ngày nay, đâu có ai cho đó là điều đáng quan tâm.

Nói chuyện bất hiếu vì không nuôi cha mẹ, thì ở Mỹ ngày nay, các bậc cha mẹ đến tuổi già, không cần đến con nuôi nấng, vì đã có phúc lợi xã hội, có tiền ăn nhà ở, thuốc men nên con cái cũng không cần phải bỏ tiền ra để lo miếng cơm, manh áo, viên thuốc cho cha mẹ. Nhưng hiện nay tại Mỹ, việc chăm sóc cho người cao niên là một kỹ nghệ làm tiền của những “nhà thầu nhân đạo” lớn mạnh, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn. Chăm sóc cha mẹ tại nhà cũng là để tránh để cha, mẹ trở thành nạn nhân của bọn kinh doanh, mà hậu quả khó lường.

Như vậy là gánh nặng của ơn sinh thành đã có chính phủ lo cho gần hết, phải chăng còn lại, là cha mẹ chỉ mong có sự thăm hỏi, quan tâm với những lời ân cần của những đứa con mà họ đã bỏ hết gần cuộc đời ra để dạy dỗ, thương yêu. Nhưng những điều này, tuy vậy không phải đứa con nào cũng làm được.

Sắp xếp công việc để dành thời giờ chăm sóc cho cha mẹ, như ngày trước cha mẹ đã ở nhà để lo cho con cái chu đáo hơn. Metlife vừa lên tiếng khuyến cáo cho những ai có ý định nghỉ việc để ở nhà để săn sóc cha mẹ già là phải suy nghĩ cẩn thận, vì họ sẽ mất nguồn lợi tức hiện tại và thiệt hại luôn đến tiền hưu. Mặt khác sau vài năm, khó có thể trở lại việc cũ vì khả năng chuyên môn không còn và giới chủ nhân không còn cần dùng đến bạn nữa! Metlife còn khuyên người ta là hãy để ý đến khả năng tài chánh của cha, mẹ để xem có thể giúp ích gì cho gia đình khi mình phải bỏ việc ở nhà. Ngoài ra còn phải tính toán xem khả năng của Medicare và Medicaid sẽ trả cho những dịch vụ gì cho người già, tức là cha mẹ mình để khỏi phải tính toán sai lầm, hối hận về sau!

Nói chung đây là tất cả những sự tính toán, sắp đặt hơn thiệt, chứ không phải làm theo tình cảm thương yêu hay bổn phận như những gì cha mẹ đã dành cho con. Vì sao chúng ta khi lo lắng cho con cái hết lòng như thế, không bao giờ tính toán thiệt hơn, nhưng khi cha mẹ già yếu, nếu phải bỏ bớt công việc, thời gian và tiền bạc để đền ơn đáp nghĩa thì lại né tránh. Ðã có biết bao nhiêu bậc cha mẹ già hiu quạnh trong nhà dưỡng lão, mắt dõi nơi bậc cửa vào ra để chờ đời một bóng dáng quen thân.

Trên báo chí chúng ta đã đọc được nhiều câu chuyện thương tâm của những bà mẹ già “bị bỏ quên” trong nhà dưỡng lão đã nhiều năm, những đứa con bận bịu những chuyến du lịch xa không còn nhớ đến cha mẹ. Một đôi vợ chồng khác lại không dám rời nhà vài ngày vì sợ con chó nhỏ không chăm sóc, trong khi mẹ già thì phó mặc cho nursing home.

Ðồng ý là “nước mắt chảy xuôi”, nhưng làm sao để trong cuộc đời, chúng ta nghĩ đến cha mẹ sau này với tấm lòng thương yêu như khi chúng ta nghĩ đến con cái bây giờ!

Nguồn : Người việt Online

Tháng bảy âm lịch và các sự tích về : Lễ Vu Lan báo hiếu- Ngày xá tội vong nhân- Ngưu Lang Chức Nữ và 3 bài thơ minh họa- Những mong ước trong ngày lễ Vu Lan


Tháng 7 âm lịch, người Việt có một ngày lễ mà giới tăng ni Phật tử thường gọi là ngày lễ Vu Lan. Đây là một đại lễ báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất – một tập tục đáng quý, đáng trọng của người Việt, thể hiện tấm lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Rằm tháng 7 Âm lịch cũng là ngày xá tội vong nhân mà dân gian gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh. Tháng 7 còn là tháng mưa Ngâu – gắn với sự tích ông Ngâu bà Ngâu hay còn gọi là tích Ngưu Lang – Chức Nữ.
1. Xuất xứ lễ Vu Lan. Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.
Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi, tránh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.
Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách, nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó”.
Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.
2. Sự tích ngày xá tội vong nhân:

Sự tích lễ cúng cô hồn như sau: Cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất, thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi, mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên”.
A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Vì vậy, ngày nay mới có câu : “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.
Nhưng lễ cúng cô hồn khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng.
3. Sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ. Thuở xưa, có vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng tên là Ngưu Lang, vì say mê nhan sắc của một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng thượng đế giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.
Nhưng về sau, Ngọc Hoàng nghĩ lại, thương tình nên ra ơn cho Ngưu Lang và Chức Nữ mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hoá thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu (thông thường vào tháng Bảy âm lịch) và gọi họ là ông Ngâu bà Ngâu.
Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả, nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Các phường thợ mộc mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai. Kẻ muốn làm kiểu này, người muốn làm kiểu kia, cãi nhau chí chóe. Đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau.
Bị hoá làm quạ, các phường thợ mộc lại càng giận nhau hơn. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh.
Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông.
Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra.

Theo Bách khoa toàn thư của Wikipedia:

Vu-lan(chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana), hay còn gọi là Tết Trung nguyên, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo, còn được hiểu là lễ báo hiếu. Ngày này còn được gọi là Xá tội vong nhân. Vào ngày này, mọi tù nhân ở Địa ngục đều được xá tội, được lên Dương gian. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, các vong nhân được xá tội nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa không nơi nương tựa, không có thân nhân trên Dương thế thờ cúng.

Vu-lan (chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn (盂蘭盆), cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa (烏藍婆拏), là cách phiên âm Phạn-Hán từ danh từ ullambana. Ullambana có gốc từ động từ ud-√lamb, nghĩa là “treo (ngược) lên”. Thế nên các dịch giả Trung Quốc cũng dùng từ Đảo huyền (倒懸), “treo ngược lên” cho từ Vu-lan, chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đoạ Địa ngục[1].

Truyền thuyết

Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước[1].

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân ông là bà Thanh Đề đã qua đời, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm[1]. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ[1].

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó”.

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng: chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu-Lan Bồn Pháp). Từ đó, ngày lễ Vu-lan ra đời[1].

Truyền thống lễ nghi

Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 (Âm lịch), để tỏ hiếu với cha mẹ, ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói khát. Ở Nhật Bản ngày lễ này được tổ chức vào ngày 15 tháng 7, hay là ngày 15 tháng 8 (tính theo Âm lịch) để tỏ những ước nguyện của mình, người ta viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước điều ước đó sẽ trở thành hiện thực.

Tại Việt Nam, việc cúng Rằm tháng Bảy bao giờ cũng phải cúng ở chùa (thờ Phật) trước, rồi mới đến cúng tại gia[2]. Lễ này thường được làm vào ban ngày, tránh làm vào ban đêm, khi Mặt Trời đã lặn[2][3].

Vào ngày này, mọi gia đình đều cúng hai mâm: cúng tổ tiên tại bàn thờ tổ tiên và cúng chúng sinh ở sân trước nhà hoặc trên vỉa hè (nếu đường rộng), thời gian cúng có thể là vào buổi sáng, trưa hoặc chiều[2]. Trên mâm cúng tổ tiên, gia đình bày đặt một mâm cỗ mặn, tiền vàng và cả những vật dụng dành cho người cõi Âm làm bằng giấy tượng trưng từ những vật truyền thống (giống như đồ thật) như quần áo[4][5], giày dép, tivi, tủ lạnh, máy giặt, ngựa, phương tiện giao thông[5], mũ kepi, người giúp việc [6]… đến những vật hiện đại: Iphone, nhà cao tầng, quạt điện, điều hòa, di động, IPhone…[7][5][4] để cho người cõi Âm có được một cuộc sống tiện nghi giống như người Dương trần.[3] Những đồ lễ đó thường được làm tại một cơ sở sản xuất rồi được xe máy chở đi khắp các tỉnh thành[5][7]. Còn mâm cúng chúng sinh thì lễ vật gồm có: quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc (xanh lam, xanh lá mạ, vàng, hồng…) và bỏng ngô, chè lam, bánh quế, cháo, tiền vàng, cốc gạo trộn muối (cốc này sẽ được rắc ra vỉa hè, sân nhà sau khi cúng xong), ngô, khoai lang luộc, cháo hoa… và những lễ vật khác dành cho những cô hồn, ma đói không nơi nương tựa.[3] (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Nguyễn Đình Sinh, Hội viên Hội VHNT Bình Định, giảng viên Đại học Qui Nhơn xin tặng các bạn 3 bài về ý nghĩa  3  ngày nói trên:

1. Ngày Lễ Vu Lan báo hiếu:

Nguyễn Đình Sinh. MỘT CHIỀU QUÊ MẸ

Phảng phất đâu đây tóc mẹ trắng chiều

Khói nồng hương rạ cháy sau mùa

Thoang thoảng mùi thơm cơm gạo mới

Cánh sen tím bên hồ nở vội

Thắm đượm lòng con xa bước trở về

Khói lam chiều khói tỏa

Vấn vương sau lũy tre làng

Con lặng lẽ trôi theo làn khói ấy

Khói chiều nay sao vừa dịu vừa cay

Thổn thức trong con dâng đầy nỗi nhớ

Tuổi thơ trên những cánh đồng

Chúng con lớn dần lên trên tấm lưng còng của mẹ

Như con trẻ được về quê nội

Như con nghé ra đồng cỏ mượt

Như con chim theo đàn mải mê

Mùa cứ đến, con lại về

nghé ra đồng và chim làm tổ

Khói lam chiều lan tỏa

Vấn vương sau lũy tre làng…NĐS

2.  Ngày Xá tội vong nhân:

Nguyễn Đình Sinh. GỌI NGƯỜI  BÊN ẤY

                                               Ngát dâu xanh-bên này bãi sông bồi

Là bờ bên kia sạt lở… cuốn trôi

Phù sa đỏ… núi trên ngàn trơ trọc

Ta miên man trong cười-khóc… mất- còn

Muốn gọi bạn bè ta trong đất trở về

Dự hội làng, mường bản chung vui

Bếp lửa nhà Rông bồi hồi rạo rực

Ngõ nhỏ hương cau thao thức đợi người

Về để nhớ tiếng ru hời bầu bạn…

Điệu lý câu hò… còn đọng đâu đây

Để ôn lại những ngày xanh. xanh ấy

Rồi bạn đi. Về lại với.. mây trời.

NĐS

3. Ngày Ngưu Lang Chức Nữ:

Nguyễn Đình Sinh. Hội viên Hội VHNT Bình Định

CHIẾC LÁ THÁNG BẢY

Tháng bảy mưa Ngâu

Có chiếc lá non thổn thức

Bồi hồi rạo rực…

Nép vào ô cửa… bâng khuâng…

Chợt… vang trời tiếng sét…

Giật mình ngơ ngác con tim

Thao thức… chiếc Cầu Ô Thước

Khát khao. Năm tháng đợi chờ

Sông Ngân… dâng đầy nước mắt

Cảm ơn trời đã bắc cầu nối nhịp

Cho chúng mình có dịp bên nhau

Khấn… cho mưa hoài, sấm chớp nhiều thêm

Để chiếc lá bên thềm mãi nép vào ô cửa

Trời đã quang mưa tạnh êm đềm

Cơn bão lòng vẫn ngân rền sấm chớp

Mãi âm vang rạo rực lòng ai

Ước gì tháng bảy còn hoài… quanh năm…

NĐS

Bài 2. Những mong ước trong ngày lễ Vu Lan. Chùa Quán Sứ (Hà Nội) chiều 12/8 đông nghẹt, bãi đỗ xe ngoài cổng gần như kín chỗ. Bên trong chùa phật tử ngồi la liệt các cầu thang, lối đi khấn vái, tỏ lòng thành kính đối với cha mẹ, tổ tiên

Nhanh tay sắp lễ gồm hoa quả, bỏng ngô, vàng hương, chị Nguyễn Thùy Linh (Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết, sau giờ tan sở, chị vội đến làm lễ. Đã thành thông lệ, năm nào cũng vậy, trước rằm tháng bảy chị đều đến chùa Quán Sứ. “Gia đình bố mẹ vẫn còn nên tôi đến cầu cho các cụ mạnh khỏe, cầu cho các vong hồn trong gia tộc được xá tội, tiên tổ dưới suối vàng phù hộ độ trì cho cả nhà”, chị giải thích.

Giống như chị Linh, chị Phương Mai (Tây Hồ) từ cơ quan tạt qua chợ rồi đến thẳng chùa Quán Sứ. Chị bảo làm lễ xong mới thấy thanh thản để sau đó hai vợ chồng đưa các con về quê ăn rằm cùng ông bà. “Quê xa không về thăm ông bà thường xuyên được, nhân dịp này gia đình về quê để cả nhà được quây quần ăn bữa cơm chung. Các cụ ở quê rất mong gặp cháu”, chị Mai cho biết.

chuaquansu

Chùa Quán Sứ rất đông người đến làm lễ. Ảnh: Yến Hoa.

Là sinh viên năm thứ nhất, Hải Yến, ĐH Đại Nam lần đầu tiên đến chùa dịp lễ Vu Lan. Không đồ lễ lỉnh kỉnh như bao khách thập phương, Yến chỉ thắp hương, bỏ tiền công đức và thành tâm khấn vái. Yến chia sẻ bố mất từ khi cô còn nhỏ, mẹ một mình nuôi dạy con gái lớn khôn bằng tình yêu thương của người mẹ và sự nghiêm khắc của người cha.

“Mẹ không bao giờ để mình cảm thấy thiệt thòi hay tủi thân vì vắng cha. Mùa lễ Vu Lan, mình đến thắp hương để cảm tạ trời Phật đã cho mình một người mẹ tuyệt vời, cầu mong cho mẹ luôn mạnh khỏe, vui vẻ. Mình rất muốn nói lời cảm ơn mẹ, nhưng sao khó quá, đành gửi những lời này tới trời Phật vậy”, Yến nói.

Kim Liên, ĐH Sư phạm Hà Nội, đã dành hẳn một ngày để đi các chùa trong nội thành Hà Nội. Liên nghẹn ngào chia sẻ, bố cô đang ốm rất nặng, cô không biết làm gì ngoài việc lên chùa cầu xin thánh thần phù hộ cho bố sớm qua cơn nguy kịch. “Em chỉ ước người nằm trên giường bệnh kia là mình. Em sẽ đánh đổi tất cả để bố có thể tỉnh dậy…”, nói đến đây cô sinh viên không cầm được nước mắt.

Còn với Hoàng Anh, sinh viên ĐH Kiến Trúc, ngoài thời gian lên giảng đường, đều đặn hàng ngày cậu đạp xe đến chùa Bằng A, quận Hoàng Mai tham gia khóa tu báo hiếu. Hoàng Anh cho biết rất ít khi đi chùa, nhưng sau khi được một người bạn thuyết phục nên đã đến tham gia thử.

“Ba ngày tham gia khóa tu đã thay đổi con người mình. Mình thực sự hiểu và biết ơn tình yêu, sự hy sinh thầm lặng, cao cả của đấng sinh thành. Mình cũng nhận ra bản thân may mắn hơn rất nhiều người khi được cài hoa đỏ (dành cho những người còn cha mẹ), bởi mình vẫn còn cơ hội để báo hiếu”, Hoàng Anh chia sẻ.

chuaquansu1

Đi lễ chùa cùng cha mẹ cũng là một cách để các vị phụ huynh giáo dục con về đạo hiếu. Ảnh: Yến Hoa.

Trong những ngày này, không khó để bắt gặp nhiều em nhỏ chừng 5-10 tuổi ríu rít theo bố mẹ đi lễ chùa. Chị Phạm Lan Anh sống ở nước ngoài đã lâu, đây là dịp hiếm hoi được trở về Việt Nam. Không có nhiều thời gian, nhưng chị vẫn cố gắng sắp xếp công việc đưa 2 đứa con đến lễ chùa.

“Lần đầu tiên các cháu trở về Việt Nam, lại đúng dịp rằm tháng bảy, mình muốn đưa các cháu đi thăm một số chùa chiền, đồng thời giáo dục cho các cháu nét truyền thống tốt đẹp của người Việt, đó là luôn nhớ về ông bà, tổ tiên. Các cháu tỏ ra rất thích thú, luôn miệng hỏi về truyền thuyết lễ Vu lan và ngày xá tội vong nhân…”, chị Lan Anh kể.Cô bé 8 tuổi Đinh Mai Hương dường như đã quen với việc đi lễ Vu Lan cùng mẹ. Không rộn ràng như bạn bè cùng trang lứa, bé chỉ lặng lẽ theo mẹ. Chị Ngọc, mẹ bé cho biết, hàng năm cứ đến dịp này là chị và chồng đều đưa con đi lễ chùa, cầu cho cha mẹ hai bên được mạnh khỏe, mong những điều may mắn đến với gia đình.

Được hỏi về mong ước của mình, bé Hương tít mắt: “Con mong ông bà, bố mẹ luôn mạnh khỏe. Con cũng xin Phật cho chân bố con khỏi đau để còn làm ngựa chơi với con”.

Theo Hòa thượng Thích Thanh Từ, trong đạo Phật, ngày Vu Lan là ngày nói lên tinh thần phục thiện, hối cải của Tăng Ni, vừa gợi lại lòng hiếu thảo của người con Phật, vừa là ngày tha thứ mọi lỗi lầm của chúng sinh. Vì nó mang ý nghĩa quan trọng như vậy nên mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, phật tử đều tụ hội về các chùa để cúng dường cầu nguyện và nghe, hiểu về tinh thần đạo hiếu.  Yến Hoa