Minna No Nihongo I – Bài 3


Bài trước đó

Bài 1

Bài 2

I. Từ Vựng

Nghe

ここ [koko] ở đây
そこ [soko] ở đó
あそこ[asoko] ở kia
どこ [doko] (nghi vấn từ) ở đâu
こちら [kochira] ( kính ngữ) ở đây
そちら [sochira] (//) ở đó
あちら [achira] (//) ở kia
どちら [dochira] (//)(nghi vấn từ) ở đâu, ở hướng nào
きょしつ [kyoshitsu] phòng học
しょくど [shokudo] nhà ăn
じむしょ [jimusho] văn phòng
かいぎしつ [kaigishitsu] phòng họp
うけつけ [uketsuke] quầy tiếp tân
ロビー [ROBI-] đại sảnh (LOBBY)
へや [heya] căn phòng
トイレ(おてあらい)[TOIRE (ote arai)] Toilet
かいだん [kaidan] cầu thang
エレベーター [EREBE-TA-] thang máy
エスカレーター [ESUKARE-TA-] thang cuốn
(お)くに [(o) kuni] quốc gia ( nước)
かいしゃ [kaisha] công ty
うち [uchi] nhà
でんわ [denwa] điện thoại
くつ [kutsu] đôi giầy
ネクタイ [ NEKUTAI] Cravat ( neck tie)
ワイン [WAIN] rượu tây (wine)
たばこ [tabako] thuốc lá
うりば [uriba] cửa hàng
ちか [chika] tầng hầm
いっかい [ikkai] tầng 1
なんかい [nankai] (nghi vấn từ) tầng mấy
えん [~en] ~ yên ( tiền tệ Nhật bản)
いくら [ikura] (nghi vấn từ) Bao nhiu ( hỏi giá cả)
ひゃく[hyaku] Trăm
せん [sen] ngàn
まん [man] vạn ( 10 ngàn)
すみません [sumimasen] xin lỗi
(を)みせてください。[(~o) misete kudasai] xin cho xem
~ じゃ(~を)ください。[jya (~o) kudasai] vậy thì, xin cho tôi (tôi lấy) cái
~ しんおおさか [shin oosaka] tên địa danh ở Nhật
イタリア [ITARIA] Ý
スイス [SUISU] Thuỵ Sỹ

II. Ngữ pháp – Mẫu câu

1. ここ [koko] そこ は_____ です。 [soko wa _____ desu] あそこ [asoko]

– Ý nghĩa: Đây là/đó là/kia là _____
– Cách dùng dùng để giới thiệu, chỉ cho ai đó một nơi nào đó
– VD: Koko wa uketsuke desu. (đây là bàn tiếp tân)

2. ここ [koko] _____ は そこ です。 [_____ wa soko desu] あそこ [asoko]

– Ý nghĩa: _____ là ở đây/đó/kia.
Cách dùng: dùng để chỉ rõ địa điểm nào đó ở đâu hoặc một người nào đó ở đâu. Thường đựơc dùng để chỉ cho ai đó một nơi nào hoặc người nào đó.
– VD:
a. Satou san wa soko desu. [ anh Satou ở đó]
b. Shokudou wa ashoko desu. [ Nhà ăn ở kia]

3. ______は どこ ですか。[_____wa doko desuka.]

– Ý nghĩa: _____ ở đâu?
– Cách dùng: dùng để hỏi nơi chốn hoặc địa điểm của một người nào đó đang ở đâu. Chúng ta có thể kết hợp câu hỏi này cho cả hai cấu trúc 1. và 2. ở trên.
– VD:
a. koko wa doko desuka? (đây là đâu?)
b. ROBI- wa doko desuka? (đại sảnh ở đâu?)
c. SANTOSU san wa doko desuka? ( Anh SANTOSE ở đâu?) + SANTOSUSAN wa kaigi jitsu desu. ( Anh SANTOSE ở phòng họp)

4.こちら [kochira] _____ は そちら です。 [_____wa sochira desu.] あちら [achira]

– Ý nghĩa: _____ là đây/đó/kia ( nếu dùng chỉ người thì có nghĩa là Vị này/đó/kia)
– Cách dùng: Tương tự với cách hỏi địa điểm, nơi chốn, người ở trên. Nhưng nó được dùng để thể hịên sự lịch thiệp, cung kính đối với người đang nghe. Nghĩa gốc của các từ này lần lượt là (Hướng này/đó/kia)
– VD: Kaigi jitsu wa achira desu. (phòng họp ở đằng kia ạ) Kochira wa Take Yama sama desu. (đây là ngài Take Yama)

5. _____は どちら ですか。[_____ wa dochira desuka?]

– Ý nghĩa: _____ ở đâu? ( nếu dung cho người thì là : ____ là vị nào?)
– Cách dùng: đây là câu hỏi lịch sự cung kính của cách hỏi thông thường.
– VD:
ROBI- wa dochira desuka? ( Đại sảnh ở hướng nào ạ?)
Take Yama sama wa dochira desuka?(ngài Take Yama là vị nào ạ?)

6. ______は どこの ですか。[_____ wa doko no desuka?] ______ は ~の です。 [_____wa ~ no desu]

– Ý nghĩa: _____ của nước nào vậy?
______ là của nước ~
– Cách dùng: Đây là cấu trúc dùng để hỏi xuất xứ của một món đồ. Và trong câu trả lờI, ta có thể thay đổi chủ ngữ ( là món đồ thành các từ như [kore] [sore] và [are] đưa ra đứng trước trợ từ WA và đổi từ đã thay thế vào vị trí sau trợ từ NO thì sẽ hay hơn, hoặc ta có thể bỏ hẳn luôn cái từ đã đổi để cho câu ngắn gọn.
– VD: cái đồng hồ này là của nước nào?) đó là đồng hồ Thuỵ Sĩ)

7. _____ は なんがい ですか。 [ _____ wa nangai desuka?] _____ は ~がい です。 [______wa ~gai desu]

– Ý nghĩa: ______ ở tầng mấy?
______ở tầng ~.
– Cách dùng: Đây là câu hỏi địa đỉêm của một nơi nào đó ở tầng thứ mấy.
– VD: nhà hàng ở tầng mấy? nhà hàng ở tầng năm

8. _____は いくら ですか。( _____ wa ikura desuka?) ______ は ~ です。 (_____wa ~ desu)

– Ý nghĩa: ______ giá bao nhiêu? _____ giá ~
– Cách dùng: Dùng để hỏi giá một món đồ.
– VD:
kono enpitsu wa ikura desuka? ( cái bút chì này giá bao nhiêu?)
sore wa hyaku go jyuu en desu. ( cái đó giá 150 yên)
Phần Phụ:
なんがい。 [ nangai] Tầng mấy
いっかい [ ikkai] tầng 1
にかい [nikai] tầng 2
さんがい [sangai] tầng 3
よんかい [yonkai] tầng 4
ごかい [ gokai] tầng 5
ろっかい [rokkai] tầng 6
ななかい [nana kai] tầng 7
はっかい [hakkai] tầng 8
きゅうかい [kyuukai] tầng 9
じゅうかい [jyuukai] tầng 10
Các từ màu khác là các từ có âm đặc biệt. Các tầng sau ta cũng đếm tương tự và các số đặc biệt cũng được áp dụng cho các tầng cao hơn ( ví dụ: tầng 11 : jyuu ikkai, tầng 13: jyuu sangai)

Advertisements

Minna No Nihongo I – Bài 2


Bài trước đó : Bài 1

I. Từ Vựng

Nghe

これ : [kore] đây
それ : [sore] đó
あれ : [are] kia
この : [kono] ~này
その : [sono] ~đó
あの : [ano] ~kia
ほん : [hon]Sách
じしょ : [jisho] Từ điển
ざっし : [zasshi] tạp chí
しんぶん : [shimbun] báo
ノート: [NOTO] tập
てちょう : [techou] sổ tay
めいし : [meishi] danh thiếp
カード : [KA-DO] card
テレホンカード : [TELEHONKA-DO] card điện thoại
えんびつ : [embitsu]viết chì
ポールペン : [BO-RUPEN] Viết bi
シャープペンシル : [SHA-PUPENSHIRU] viết chì bấm
かぎ : [kagi] chì khoá
とけい : [tokei] đồng hồ
かさ: [kasa]Cái dù
かばん : [kaban] cái cặp
[カセット]テープ : [KASETTO TE-PU] băng ( casset)
テープレコーダー : [TE-PUREKO-DA-]máy casset
テレビ : [TEREBI]cái TV
ラジオ : [RAZIO] cái radio
カメラ : [KAMERA] cái máy chụp hình
コンピューター : [KOMPYU-TA-] máy vi tính
じどうしゃ: [jidousha] xe hơi
つくえ : [tsukue] cái bàn
いす : [isu] cái ghế
チョコレート : [CHOKORE-TO] kẹo sôcôla
コーヒー : [KO-HI-] cà phê
えいご : [eigo] tiếng Anh
にほんご : [nihongo] tiếng Nhật
~ご: [~go] tiếng ~
なん : [nan] cái gì
そう : [dou] thế nào
ちがいます : [chigaimasu] không phảI, sai rồi
そですか。: [sodesuka] thế à?
あのう : [anou] à…..ờ ( ngập ngừng khi đề nghị hoặc suy nghĩ 1 vấn đề)
ほんのきもちです。[honnokimochidesu] đây là chút lòng thành
どうぞ : [douzo] xin mời
どうも : [doumo] cám ơn
[どうも]ありがとう[ございます。] : [doumo arigatou gozaimasu] Xin chân thành cảm ơn
これからおせわになります。: [korekara osewa ninarimasu] Từ nay mong được giúp đỡ
こちらこそよろしく。[kochirakoso yoroshiku] chính tôi mới là người mong được giúp đỡ.

II. Ngữ Pháp – Mẫu câu:

1._____は なんの~ ですか。

– Ý nghĩa: _____ là cái gì?

– Cách dùng: Đây là mẫu câu dùng để hỏi về thể loại hay thuộc tính của một sự vật, hiện tượng. Ta cũng có thể dùng để hỏi với ý nghĩa là sở hữu khi thay đổi từ để hỏi [nan] bằng từ để hỏi [dare] mà sau này chúng ta sẽ học tới! – Ví dụ: (đây là sách gì?) + (đây là sách tiếng Nhật)

2._____は なんようび ですか。

– Ý nghĩa: _____ là thứ mấy?
– Cách dùng: Dùng để hỏi thứ, có thể là ngày hôm nay hoặc là một sự kiện sự việc gì đó.
– Ví dụ:
a. Hôm nay là thứ mấy? +Hôm nay là thứ ba
b. NOEL là thứ mấy? + NOEL ngày thứ Tư.

3._____は なんにち ですか。

– Ý nghĩa: _____ là ngày mấy?
– Cách dùng: Dùng để hỏi ngày và có thể là ngày hôm nay hoặc là ngày của 1 sự kiện gì đó.
– Ví dụ: Sinh nhật ngày mấy? + Tanjoubi wa 17(jyu nana) nichi desu. Sinh nhật ngày 17.

4.これ /それ/あれ は なん ですか。

– Ý nghĩa: Cái này/cái đó/ cái kia là cái gì?
– Cách dùng:
a. Với [kore] thì dùng để hỏi vật ở gần mình, khi trả lời phải dùng [sore] vì khi đó vật ở xa người trả lời
b. Với [sore] dùng để hỏi vật ở gần người nói chuyện với mình, khi trả lời phải dùng [sore]
c. Với [are] dùng để hỏi vật không ở gần ai cả nên trả lời vẫn là [are]
– Ví dụ: Đây là sách gì? Đó là sách Kanji

5.  この~  その~ は なんの~ ですか。 あの~

– Ý nghĩa: ~này/~đó/~kia là ~ gì?
– Cách dùng tương tự mẫu câu số 4 nhưng có í nhấn mạnh hơn!
– Ví dụ: cuốn tạp chí đó là tạp chí gì? cuốn tạp chí này là tạp chí về Vi tính.

Phần phụ lục:

なんようび [nanyobi] thứ mấy
げつようび [getsuyoubi] thứ Hai
かようび [kayoubi] thứ Ba
すいようび [suiyoubi] thứ Tư
もくようび [mokuyoubi] thứ Năm
きんようび [kinyoubi] thứ Sáu
どようび [doyoubi] thứ Bảy
にちようび [nichiyoubi] Chủ Nhật
なんにち [nannichi] ngày mấy
Ở Nhật trong 10 ngày đầu người ta có cách đọc khác đi so với các ngày còn lạI, và chúng ta có thể dùng cho cả hai trường hợp là “ngày ~” hoặc “~ngày”
ついたち [tsuitachi] ngày 1 ( hoặc 1 ngày)
ふつか [futsuka] ngày 2 ( hoặc hai ngày)
みっか [mikka] ngày 3 (//)
よっか [yokka] ngày 4 (//)
いつか [itsuka] ngày 5 (//)
むいか [muika] ngày 6 (//)
なのか [nanoka] ngày 7 (//)
ようか [youka] ngày 8 (//)
ここのか [kokonoka] ngày 9 (//)
とおか [to-ka] ngày 10 (//)
Các ngày còn lại ta đếm bằng cách ráp cách đếm số với chữ “ ” にち [nichi] là được (vd: jyuuichinichi=ngày 11….) nhưng có 1 số trường hợp đặc biệt sau: và tương tự cho các số còn lại ( vd: nijyuu yokka= ngày 24) じゅうよっか [jyuu yokka] Ngày 14 じゅ うくにち [jyuu kunichi] ngày 19 (điểm khác biệt so với đếm số thông thường của số này là số chín không có trường âm, “ku” thay vì “kuu” はつか [hatsuka] ngày 20 ß cái nì chỉ có 1 lần thôi!!! Không lặp lại nha!!!

Minna No Nihongo I – Bài 1


Bài tiếp theo

Bài 2 Bài 3 Bài 4

I. Từ vựng :

Nghe :

わたし Tôi
わたしたち Chúng tôi, chúng ta
あのひと Người kia, người đó
あのかた Cách nói lịch sự của あのひと vị kia
みなさん các bạn, các anh chị, quý vị, các ông bà
~さん Anh chị, ông bà (cách gọi người khác một cách lịch sự bằng cách thêm từ này sau tên người đó)
~くん Hậu tố thêm sau tên của em trai
~ちゃん Hậu tố thêm sau tên của trẻ em thay cho ~さん
~じん hậu tố mang nghĩa người nước ví dụ : アメリカじん :Người mỹ
せんせい Thầy/cô ( không dùng khi nói về nghề nghiệp giáo viên của mình)
きょうし Giáo viên
がくせい Học sinh, sinh viên
かいしゃいん Nhân viên công ty`
しゃいん Nhân viên công ty ~ dùng kèm theo tên công ty, ví dụ ブライセンのしゃいん :Nhân viên công ty Brycen
ぎんこういん Nhân viên ngân hàng
いしゃ Bác sĩ
けんきゅうしゃ Nhà nghiên cứu
エンジニア Kỹ sư
だいがく Trường đại học
びょういん Bệnh viện
でんき Điện, đèn điện
だれ(どなた) Ai (どなた là cách nói lịch sự của だれ : vị nào)
~さい ~Tuổi
なんさい(おいくつ) Mấy tuổi, bao nhiêu tuổi (おいくつ là cách nói lịch sự của なんさい)
はい Vâng, dạ
いいえ Không
しつれいですが Xin lỗi,…
おなまえは? Tên anh/chị là gì?
はじめまして Rất hân hạnh được làm quen với anh/chị ( Đây là lời chào đầu tiên khi gặp, là câu nói đầu tiên khi giới thiệu về mình)
どうぞ よろしく 「おねがいします」 Rất mong được sự giúp đỡ của anh/chị, rất vui được làm quen với anh chị (dùng làm câu kết thúc khi giới thiệu về mình)
こちらは~さんです Đây là anh/chị/ông/bà ~
~からきました (Tôi) đến từ~
Một số nước
アメリカ Mỹ
エギリス Anh
インド Ấn Độ
インドネシア Indonesia
韓国
(かんこく)
Hàn Quốc
タイ Thái Lan
ベトナム Việt Nam
中国
(ちょうごく)
Trung Quốc
ドイツ Đức
日本
(にほん)
Nhật bản
フランス Pháp
ブラジル Brazin
さくらだいがく/ふじだいがく Tên các trường đại học giả tưởng

II.Giải thích ngữ pháp

Danh từ 1 + は + Danh từ 2 + です

Trợ từ は biểu thị rằng danh từ đứng trước nó là chủ đề của câu. Người nói đặt は trước chủ đề mà mình muốn nói đến và lập thành câu bằng cách thêm vào sau は những thông tin cần thiết.

わたしは マイク・ミラーです :Tôi là Mike Miller.

Chú ý は đọc là わ

Danh từ 1 は danh từ 2 じゃ ありません

「じゃ ありません」là thể phủ định của 「です」、và thường được dùng trong giao tiếp hàng ngày. 「では ありません」 được dùng trong văn bản viết hoặc các bài phát biểu sang trọng

サントスさんは がくせい じゃ ありません :Anh Santos không phải là sinh viên.

Chú ý : 「では」 đọc là 「でわ」

Câu か

1) Trợ từ か được dùng để biểu thị sự không chắc chắn, sự nghi vấn của người nói. câu nghi vấn được tạo thành bằng cách thêm 「か」 ở cuối câu. trong câu nghi vấn chữ か được đọc với giọng cao hơn.

2) Câu nghi vấn để xác định xem một nội dung là đúng hay sai.

ミラーさんは アメリカじんですか。 Anh Miller có phải là người Mỹ không?

はい、アメリカじんです。 vâng anh ấy là người mỹ/

ミラーさんは せんせい ですか。 Anh Miller có phải là giáo viên không

いいえ、せんせいじゃ ありません。 Không, anh ấy không phải là giáo viên.

3)Câu nghi vấn có nghi vấn từ

Thay nghi vấn từ vào vị trí của thành phần câu mà bạn muốn hỏi. Trật tự từ không thay đổi. thêm 「か」 vào cuối câu.

あのかたは どなたですか。 Người kia là ai?

…「あのかたは」ミラーさんです。…. Người đó là anh Miller

Danh từ も

「も」Được dùng để diễn tả chủ đề của câu giống với danh từ tương ứng ở câu trước.

ミラーさんは かいしゃいんです。 Anh Miller là nhân viên công ty

グプタさんも かいしゃいんです。 Anh Gupta cũng là nhân viên công ty

Danh từ の

「の」nối hai danh từ với nhau. danh từ 1 bổ nghĩa cho danh từ 2. 「の」 trong bài này nói về sở hữu thuộc.

ミラーさんは IMCのしゃいんです。 Anh Miller là nhân viên công ty IMC.

~さん

Trong tiếng nhật, từ 「さん」 được dùng ngay sau tên của người nghe để thể hiện sự kính trọng khi gọi tên người đó.

あのかたは ミラーさん です。 Người kia là anh Miller.

MAKING OUT IN VIETNAMESE by Peter Constantine & Ton-That Quyh-Due


A very handy book for getting to the know the locals. This is a used travel book in good condition: pages are nice and white and clean; cover shows light wear and age. See photos for cover blurb and sample pages. The book in the photos is the actual book you will receive – we never use stock pictures – enjoy!
Synopsis: The books in the Making Out series are fun and accessible guides to languages as they’re spoken on the street. These classic phrase books have been updated and expanded for use in informal situations such as bars, parties, or anywhere else one needs to know slang to survive!

 

image image

image

image

Download : HERE

Đạo hiếu là gì? Hiếu theo quan niệm thời xưa khác thời nay như thế nào?


Các bạn biết chữ Hán thấy rõ: Chữ “Hiếu” là chữ viết tắt của hai chữ “Lão” ở trên (lượt bớt phần dưới) và chữ “Tử” ở dưới. “Hiếu” tức là mối quan hệ cha trên, con dưới; suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Đọc bài “Đạo hiếu” của Nhất Thanh (Tr.331 cuốn “Đất lề quê thói”- NXB Đồng Tháp) cùng với một số bài nói về lễ Mừng lão,Yến lão, tôi rất nhất trí và không lặp lại, chỉ xin nói thêm vài lời.

Đạo hiếu xuyên suốt trong mọi phong tục của  nhân dân ta, không thể không nói đến chữ hiếu khi viết về phong tục cổ truyền của ta. Lễ tế, lễ tang, lễ cưới, kể cả sinh đẻ, xây nhà dựng cửa, hội hè đình đám, việc nước, việc làng, thuần phong mỹ tục đã đành  mà trong số những phong tục đã lỗi thời, ngày nay bị xếp vào loại đồi  phong bại tục, ta cũng chắt lọc được một phần tinh hoa của đạo hiếu.

“Hiếu” là thiên kinh địa  nghĩa, là gốc của mọi đức tính. Ca dao tục ngữ đã nói nhiều, ngay trong bài học vỡ lòng, trong “Luân lý giáo khoa thư” các em đã hiểu: “Công cha như núi Thái  Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”… Những chân lý đó, ai không chấp nhận, song quan niệm về chữ “Hiếu” ngày nay cũng có phần khác thời xưa.

Tôi không dám lên mặt dạy đời, chỉ xin thuật lại một buổi tranh luận trong nội bộ gia đình tôi:
Trước hết tôi hỏi” “Việc hiếu” là gì? Cháu nhanh nhảu trả lời:
– “Việc hiếu” là việc đưa đám  ma, vì hôm trước, đưa đám ma xong, ông hàng xóm đứng lên cảm ơn thân bằng, cố hữu đã giúp gia đình lo xong việc hiếu….

Đến đây, được chú em tôi phụ hoạ thêm:
– Cháu nói có lý đấy anh ạ! “Việc hiếu” là việc đối với người chết, cho  nên người ta thường nói “Hiếu”, “Hỷ”, tức là chỉ việc tang, việc cưới. Nhưng cháu ạ, việc hiếu phải ba năm chứ không phải đưa ma xong là xong đâu ! Đến  như tiến sĩ Trần Quán, một người tận trung  tận hiếu  cuối triều , trước khi chết còn viết đôi câu đối “Tam niên chi hiếu dĩ hoàn. Thập phần chi trung vị tận” (Chữ “Hiếu” 3 năm đã xong, chữ “Trung” mười phần chưa trọn).
– Hiếu đối với người chết, còn đối với người sống thì sao? “Sự tử như sự sinh” kia mà?
– ồ, anh muốn biết con anh có hiếu hay không, xin anh hãy ráng chờ sau khi anh chết sẽ rõ. Ca dao có câu “Khi sống thì chẳng cho ăn. Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi”. Thời xưa còn thế nữa là bây giờ. Nhưng anh cũng đừng lo ruồi ăn hết phần, vì thanh niên ngày nay có biết đọc văn nữa đâu mà tế ruồi.

Đến đây lại chuyển sang mục tranh cãi giữa tôi và chú em về quan niệm chữ “Hiếu” thời xưa và thời nay.
– Thời nay lớp trẻ chẳng biết “Chín chữ cù lao” là cái gì. Công ơn mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn tốn bao nhiêu tâm lực, đến nay chúng nó có lớn mà chẳng có khôn.
– Tôi phàn nàn – Đã thế còn hỗn láo, bướng bỉnh…
– Đó chẳng qua là cái món nợ đồng lần, mình  nuôi con rồi nuôi cháu cũng thế. Lớp trẻ bây giờ nhiều  người nói ngược: “Sinh ra ta, nuôi ta lớn lên, đó là trách nhiệm của các ông bô bà bô”. Có đứa còn trách bố mẹ: “Sao người ta ăn sung mặc sướng, được chiều chuộng. Bố mình thì “Khắt khe”, “Ky bo’ mà còn kể ơn huệ!” – Chú em tôi kể thêm.

Đối với những ông bố bà mẹ có những đứa con như vậy, quả thật là bất hạnh, song cũng phải khẳng định số người  đó rất ít,  vả lại khi đến tuổi trưởng thành, được tiếp thu sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội và qua khảo nghiệm thực tế của cuộc đời, chúng sẽ thay đổi tính tình. Bố mẹ bao giờ cũng sẵn sàng tha thứ, nước mắt chảy xuôi là lẽ thường tình.

Bàn đến câu ca dao: “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”, rồi “Trứng khôn hơn vịt”… được dịp, con cả tôi xen vào:
– Con xin phép cha mẹ và chú, con cãi cha mẹ không phải trăm phần trăm con hư cả. Nếu cha mẹ nghĩ sai làm sai, con can ngăn thì đó có phải là bất hiếu đâu!

Ông chú gật gù tán thành:
– Cháu nói có lý. Câu “Con cãi cha mẹ trăm phần con hư” chỉ đúng khi đứa con còn thơ ấu, chứ khi đã trưởng thành có nhiều cô cậu còn khôn hơn cha mẹ. “Con hơn là nhà có phúc” mà ! Thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến vùn vụt, tư duy chính trị, kinh tế bây giờ cũng đổi mới mà  cánh già chúng ta thường hay thủ cựu, bảo thủ  cố chấp. Âu cũng là mâu thuẫn giữa hai thế hệ…

– Theo chú, câu tục ngữ “Có con tội sống, không có con tội chết” có đúng không?
– Đúng thời xưa nhưng không đúng  thời nay. Thời xưa có câu “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là điều nặng nhất). Cha mẹ ông bà tuy đã qua đời nhưng không còn sống trong ta, nếu ta không có con thì sau khi ta chết, ta cũng làm tiêu tan nốt giòng máu của bao đời tổ tiên, ông cha lưu lại. Nhưng còn tội sống thì sao ? Có ít người cho rằng nuôi con chẳng qua chỉ mang thêm tội vạ. Đã vậy sao nhiều người ghét  con lại thương cháu. Có lẽ họ nghĩ rằng chon họ đã không nối được nghiệp cha ông thì hy vọng cháu mình sẽ nối.

Trong cuốn “Một nghìn lẻ một đêm” một nhà thông thái đã trả lời đám đông: “Nỗi khổ nhất và dai dẳng nhất trên đời là có đứa con hư”. Nhưng còn một mặt khác, mà là mặt tích cực và phổ biến “Con khôn nở mặt mẹ cha” “Một con một của”, có ai từ. Gặp nhau người ta hỏi thăm nhau: “Mấy trai máy gái rồi ?”, chứ có hỏi: “Mấy của rồi ?”đâu. Còn như câu “Trẻ cậy cha, già cậy con” ngày nay liện còn đúng không ?

Nhân nhắc đến những gương hiếu kính thời xưa được nhà vua ban biển vàng như thời vua Lê Huyền Tông cách đây gần ba trăm năm (1663-1671), ban biển đỏ với  bốn chữ vàng “Hiếu hạnh khả phong” như thời vua Hàm Nghi cách đây hơn một trăm năm (1885-1888) chú em tôi thắc mắc có tính chất gợi ý: “Thời nay thiếu gì gương hiếu kinh sao từ trung ương đến địa phương chưa thấy có hình thức khen thưởng biểu dương gì ?. Trong quyển “Nhị thập tứ hiếu” có Lục Tích người quận Cửu Chân mới 6 tuổi đến nhà họ Viên ăn tiệc xong dấu quả quýt mang về cho mẹ Quận Cửu Chân là đất Thanh Hoá ngày nay. Lục Tích cũng được liệt trong số “Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu”, sao trong sử sách ta, không thấy nói đến.

Ông chú vừa dứt lời, cậu con trai thứ của tôi xen ngay :
– Tưởng ai nổi danh, chứ như Lục Tích giấy quýt về cho mẹ cũng đưa vào sử sách, thì ở nước ta giấy mực đâu mà thống kê cho hết, ở một vùng cũng đến hàng ngày hàng vận người. Ngay như cháu đây, lúc nhỏ cùng đi ăn giỗ với chú ở nhà thờ họ, hẳn chí còn nhớ, lúc đó cháu mới bốn, năm tuổi, cháu còn nhớ chú xé sẵn cho cháu một tài lá chuối trước khi ăn cỗ, thế rồi phần giò, phần nêm, chả, xôi, hoa quả của cháu, cháu đều gói cả lại mang về phần mẹ, phần em, mặc dầu cháu rất thèm, cháu hơn hẳn Lục Tích chứ chú!

Nghe con nhắc lại chuyện cũ, vợ tôi nhoẻn miệng cười gật đầu tán thưởng. Tôi liếc thấy vợ tôi còn rơm rớm nước mắt vì cảm động.

Cậu con thứ của tôi, bỗng quay lại phía chú, đột ngột hỏi:
– Vua ban bằng ‘Hiếu hạnh” gì gì đó có đúng đối tượng không chú ? Hay lại nghe dưới  tâu báo lên, chỉ phong cho bọn lắm tiền, khéo nịnh, để được ăn khao cho to ? Chú ạ, ngày xưa các cụ ngốc lắm” “Đức Đại thánh họ Ngu vua Thuấn” thì đúng là không khôn: hiếu với cha mẹ đã đành một nhẽ, chứ với mụ gì ghẻ cay nghiệt như kiểu mẹ con Cám, gặp phải cháu thì ăn đám chứ đừng hòng “Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt”. Đời nhà ai, có người chôn con nuôi mẹ như Hán Quách Cự mà cũng được “Thơm nghìn muôn thu”. Đáng lý ra triều đình phải ngiêm trị tội giết người, hơn nữa lại là tội giết hại trẻ con.

Cuối cùng chú em tôi quay sang hỏi tôi:
– Theo ý anh, thế nào là “Có hiếu”, thế nào là “Bất hiếu”. Giữa hai đứa con, anh chọn đứa nào, một như cháu đây: Con nhà nghèo, mới 4, 5 tuổi đã biết giành phần ngon về biếu mẹ, một là đưa giàu sang, không đúng ngày giỗ cha cũng lấy cớ bịa ra ngày giỗ, cỗ bàn linh đình để khoản đãi, cầu cạnh những kẻ cao sang, lmà ra vẻ người con chí hiếu, trong khi đó thì hắt hủi người mẹ quê mùa, lam lũ nghèo hèn như trong chuyện “Báo hiếu cha” của Nguyễn Công Hoan. Thế nào, giữa “Lục Tích nhà ta” mặc dầu có lúc còn hỗn láo bướng bỉnh và nhân vật “Chủ hãng ô tô con cọp” của Nguyễn Công Hoan, anh chọn đứa nào?

Dường như để tránh dung dưỡng cho những điều không phải, chú em tôi quay lại, nhỏ nhẹ bảo cháu:
– Cháu ạ, cháu có thể tranh luận với cha mẹ nhưng phải lễ độ, từ tốn, phải biết lựa lời, chọn lúc, tuyệt đối không được có thái độ nóng nảy, cáu gắt, hỗn láo, nhất là khi có khách, khi ra đường, giữa  công chúng, hoặc trước mặt vợ con, đừng để ông bà trên bàn thờ quở mắng bố mẹ cháu rằng không biết dạy con; đừng để vợ con cháu, em út cháu khinh nhờn bố mẹ cháu, tất nhiên cũng  khinh nhờn cả cháu. Sau này cháu sẽ rõ: có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.
Từ nãy đến giờ nhà tôi chỉ ngồi nghe, bây giờ mới lên tiếng: “Nghe cha con, chú cháu nhà ông nói thì ai cũng  có lý”!
Xin mượn câu đó làm câu kết cho bài này.

Bàn thờ vọng là gì? Cách lập bàn thờ vọng


Bàn thờ vọng ngày nay khá phổ biến, áp dụng cho con cháu sống xa quê, hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết. Ngày xưa, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương, vì vậy bàn thờ vọng chỉ là hiện tượng cá biệt và tạm thời, chưa thành phong tục phổ biến.

“Vọng bái “, nghĩa là vái lạy từ xa. Ngày xưa, khi triều đình có những điển lễ lớn, các quan trong triều tập trung trước sân rồng làm lễ, các quan ở các tỉnh hoặc nơi biên ải, thiết lập hương án trước sân công đường, thắp hương, nến, hướng về kinh đô quỳ lạy Thiên tử. Khi nghe tin cha mẹ hoặc ông bà mất, con cháu chưa kịp về quê chịu tang, cũng thiết lập hương án ngoài sân, hướng về quê làm lễ tương tự. Các bàn thờ thiết lập như vậy chỉ có tính chất tạm thời, sau đó con cáo quan xin về cư tang ba năm (xem bài Lễ Cư tang). Các thiện nam tín nữ hàng năm đi trẩy hội đền thờ Đức Thánh Trần ở Vạn Kiếp, đức Thánh Mẫu ở Đền Sòng v.v… dần dần về sau, đường sá xa xôi, cách trở, đi lại khó khăn, cũng lập bàn thờ vọng như vậy. Nơi có nhiều tín đồ tập trung, dần dần hình thành tổ chức. Các thiện nam tín nữ quyên góp nhau cùng xây dựng tại chỗ một đền thờ khác, rồi cử người đến bàn thờ chính xin bát hương về thờ. những đền thờ đó gọi là vọng từ (thí dụ ở số nhà 35 phố Tôn Đức Thắng Hà Nội có “Sùng Sơn vọng từ” nghĩa là Đền thờ vọng của núi Sòng, thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh).

Bàn thờ vọng ông bà cha mẹ chỉ được tập trung trong trường hợp sống xa quê. Những người con thứ, bất cứ giàu nghèo, sang hèn thế nào, nếu ở gần cánh cửa trưởng trên đất tổ phụ lưu lại, thì đến ngày giỗ, ngày tết, con thứ phải có phận sự hoặc góp lễ, hoặc đưa lễ đến nhà thờ hay nhà con truởng làm lễ, cho dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng cháu, thì chú hoặc ông chú vẫn phải thờ cúng ông bà tại nhà cửa trưởng. Do đó không có lệ lập bàn thờ vọng đối cửa thứ ngay ở quê nhà. Nếu cửa trưởng khuyết hoặc xa quê, thì người con thứ 2 thế trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ ở nhà người anh cả ở xa quê lại là bàn thờ vọng.

Phong tục rất hay và rất có ý nghĩa. Bởi lẽ chữ Hiếu đi đôi với chữ Đệ. Khi sống cũng như đã mất, ông bà cha mẹ bao giờ cũng mong muốn anh chị em sống hòa thuận, một nhà đầm ấm. Thỉnh vong hồn về cầu cúng lễ bái, mà anh chị em ở gần nhau không sum họp, mỗi người cúng một nơi, thì đó là mầm mống của sự bất hoà, vong hồn làm sao mà thanh thản được.

Cách lập bàn thờ vọng:
Chưa phải là phong tục cổ truyền, chưa có nghi lễ nhất định, mà chỉ là kinh nghiệm truyền cho nhau khoảng đầu thế kỷ lại nay tuỳ hoàn cảnh thuận tiện mà vận dụng: Khi bắt đầu lập bàn thờ vọng phải về quê chính báo cáo gia tiên tại bàn thờ chính. Sau đó xin phép chuyển một lư hương phụ hoặc mấy nén hương đang cháy giở mang đến bàn thờ vọng rồi thắp tiếp. Nếu có nhà riêng, tương đối rộng rãi khang trang, thì bàn thờ đặt hẳn một phòng riêng chuyên để thờ cúng cho tôn nghiêm, hoặc kết hợp đặt ở phòng khách, nhưng cao hơn chỗ tiếp khách. Nếu đặt bàn thờ gia thần riêng, thì phải đặt thấp hơn bàn thờ gia thần một ít. Đặt hướng nào? – Hướng về quê chính, để khi người gia trưởng thắp hương vái lạy thuận hướng vái lạy về quê. Thí dụ người quê miền Trung sống ở Hà Nội thì đặt bàn thờ vọng phía Nam căn phòng hay ngoài sân, ngoài hiên. Không nên đặt bàn thờ trong buồng ngủ, trừ trường hợp nhà chật hẹp quá thì phải chịu. Không nên đặt cạnh chỗ uế tạp, hoặc cạnh lối đi. Đối với những gia đình ở khu tập thể nhà tầng, nếu câu nệ quá thì không còn chỗ nào đặt được bàn thờ. Những người sống tập thể, chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng thành kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra sao.

Tặng gì cho ‘một nửa’ ngày 20-10?


Ngày Quốc tế phụ nữ đang đến gần, cánh nam giới đang băn khoăn không biết chọn mua món quà gì để làm vui lòng ‘một nửa’. Dưới đây là những gợi ý cho bạn.

1. Hoa

Món quà ‘phổ cập’ không thể thiếu trong ngày quốc tế phụ nữ. Tất cả các cô gái đều cảm thấy hạnh phúc khi được tặng hoa. Thậm chí, nhiều cô gái còn dựa vào bó hoa bạn tặng để xác định mức độ tình cảm. Do đó, hãy thật tinh tế với bó hoa của mình để mang lại niềm vui cho nàng. Tùy vào các giai đoạn của tình cảm để bạn có thể tặng hoa cho ‘một nửa’. Nếu bạn muốn tỏ tình hoặc hai người đang yêu nhau thì hoa hồng là lựa chọn tốt. Tuy nhiên, nếu như cô ấy là người lãng mạn và hai bạn yêu nhau đã quá lâu, đã nhiều lần bạn tặng nàng hoa hồng thì hãy lựa chọn những loại hoa khác như hoa ly,  lan… để ‘đổi gió’ cho tình yêu của hai người.

 

image

Phái nữ thích được bạn trai dẫn đi mua sắm (Ảnh minh họa)

2. Thời trang

Đây cũng là món đồ mà phái nữ yêu thích. Tuy nhiên, nếu như bạn không chắc về số đo của nàng thì không nên mua quần áo cho cô ấy, bởi nàng có thể sẽ không vừa. Cách tốt nhất nếu bạn muốn gây ấn tượng với nàng trong ngày 20-10 thì hãy dẫn cô ấy vào cửa hàng thời trang để mua sắm. Đó là cách tốt nhất để bạn có thể mua đồ vừa vặn với nàng.

3. Nước hoa

Nước hoa là quà tặng dành cho những bạn gái tinh tế, lãng mạn và có gu ăn mặc đẹp. Nếu người yêu bạn thuộc tuýp những cô gái đó thì có thể tặng nước hoa để làm nàng thích thú. Hãy chọn những loại nước hoa có mùi dịu nhẹ, quyến rũ. Đó là loại hương thơm trung lập có thể làm hài lòng hầu hết phái yếu.

4. Đồ hand made

Nếu bạn tự tin vào khả năng của mình thì có thể làm những đồ hand made cho nàng, có thể là một tấm thiệp, một bức tranh do bạn vẽ, hoặc nếu bạn thích sự độc đáo nhưng không thể tự mình mang niềm vui đến cho cô ấy thì hãy ra những cửa hàng có bán đồ tự làm. Giờ đây không thiếu những cửa hàng như vậy để bạn có thể tham khảo.

image

Hãy làm nàng hạnh phúc trong ngày 20-10 (Ảnh minh họa)

5. Điện thoại, đồ công nghệ

Nếu bạn là người có khả năng về kinh tế và cô ấy thích những đồ thuộc về công nghệ thì đây là gợi ý cho bạn. Người phụ nữ nào cũng không thể tránh được sức hấp dẫn của những chiếc điện thoại xinh xinh mang nhiều chức năng. Bên cạnh điện thoại, i pad, lap top cũng là những món đồ tuyệt vời mà cánh nam giới có điều kiện có thể dành tặng bạn gái trong ngày đặc biệt này.

6. Và những thứ không thể thiếu:

– Tin nhắn ngọt ngào, độc đáo do bạn viết riêng cho người ấy, không ‘đụng hàng’ với những tin nhắn cho bạn bè, đồng nghiệp.

– Một bữa tối hay buổi nói chuyện tại một quán cafe quang cảnh đẹp, lãng mạn.

– Những cử chỉ không thể thiếu của những người yêu nhau: cái nắm tay thật chặt, khoác vai âu yếm, nụ hôn nồng nàn sẽ khiến cô ấy cảm nhận được tình cảm của bạn.