Giải mã hiện tượng nhớ về tiền kiếp


Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy, và yêu cầu được trở về thăm quê hương.

Về tới “nhà”, Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói: “Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà này quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi.

image

 

Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn cho giới khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự, và hiện tượng “nhớ về quá khứ” không nhất thiết phải bắt đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.

Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành “một người xa lạ” sau khi tỉnh dậy một buổi sáng. Em không nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha, và lúc nào cũng tỏ ra sợ sệt.

Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khoẻ tốt. Em nhận mình là người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo. Em kể lại rằng một người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22 tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra lại câu chuyện kỳ quặc về “tiền kiếp” của em, và kết luận, đúng như lời em kể. Ở số nhà đó trong thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú tội.

Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn có người đột nhiên “biến” thành công dân La Mã cổ đại, và bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng được thứ ngôn ngữ “nguyên thủy” của mình, không còn ai hiểu nữa. Tương tự như vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất hẳn khả năng dùng tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở vùng sông Nile, và tự nhận có nguồn gốc Ai Cập.

“Trí nhớ gene”

Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện tượng trên với khái niệm “trí nhớ gene”: Nếu các vùng “ngủ” trong ADN bị kích thích, con người có thể “trở về tiền kiếp”. Họ bỗng nhớ lại gốc gác La Mã hoặc Ai Cập từ xa xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước.

Nhưng ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hoá thân, có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng “trí nhớ gene”. Vậy nó là thế nào? Ở châu Á, người ta rất quen thuộc với thuyết luân hồi của Phật Giáo, cho rằng thể xác con người – tức là cái “bề ngoài” – luôn thay đổi. Còn cái “bên trong thể xác” – tức linh hồn – là vĩnh cửu. Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự sinh ra, và cũng không kết thúc bằng cái chết. Cuộc sống cứ trôi vô tận. Linh hồn ở mỗi “kiếp” lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp trước của mình.

Thuyết về kết cấu “phách”

Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề trên bằng “kết cấu phách”. “Phách” ở đây tất nhiên không phải là “phách” trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ “phần bất biến” của con người, còn được hiểu là “phần năng lượng tách ra dưới dạng sóng”. Khi người chết, “phách” liền tan vào vũ trụ. Vì thế, “phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ”, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể”.

Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách có thể lý giải được đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa học…). Ở tuổi rất trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời cũng khó có được. Theo thuyết này, “phách” của các thiên tài là sản phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện hữu. Nói cách khác, “trường sóng hạt cơ bản nhẹ” hay những “tập hợp thông tin cá thể” đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật nào đó.

Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất mới về hiện tượng “nhớ về quá khứ”. Họ đã lập ra một “quy trình công nghệ” cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa mơ và thực. Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức, họ lại thấy cả quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.

Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những chuyện về “siêu trí nhớ” gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của khoa học chính thống. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại chịu bó tay để tự rơi vào vòng “bất khả tri”, các nhà khoa học vẫn đang tìm cách để giải thích những điều khó giải thích nhất.

(Theo cuốn “Bí ẩn nhân loại”, NXB Từ điển Bách khoa)

Kỳ lạ hủ tục dùng đá phá trinh


Một trong những sự kiện lớn nhất của con người thời tiền sử khi bước vào chế độ một vợ một chồng chính là “phá trinh gái trinh”. Nó phản ánh tâm lý và quan niệm của người nguyên thuỷ, phản ánh lịch trình kiến lập khó khăn của gia đình hiện đại.

Cho đến ngày nay, trong sâu thẳm tiềm thức của đàn ông và đàn bà hoặc nhiều hoặc ít vẫn tồn tại dấu vết tàn dư của phá trinh con gái. Vì vậy, dưới sự phân tích khoa học về hiện tượng phá trinh gái trinh thần bí này, có thể từ một trình độ nhất định nghiên cứu lịch sử hôn nhân, dân tộc học, tâm lý học, đồng thời thông qua phân tích, nghiên cứu, sẽ làm con người hiểu một cách chính xác hơn nữa về tuổi thơ của con người.

 

image

Nguyên tắc của tục lệ này là phải dùng người thứ ba hoặc vật nào đó phá trinh con gái.

Phá trinh gái trinh vẫn tồn tại trong một số bộ lạc bản địa nguyên thuỷ ở Úc. Trong bộ lạc nếu có hôn lễ, mọi người tấp nập đến chúc mừng, tất cả nhảy múa, uống rượu tưng bừng. Khi hôn lễ đến lúc cao trào, một số người trong bộ lạc sẽ vây lấy cô dâu đưa vào một căn phòng khác, dùng dụng cụ đá hoặc công cụ khác phá trinh cô dâu. Sau đó một người sẽ cầm vật có máu trinh của cô dâu đem ra cho mọi người thấy. Lúc này, nghi thức hôn lễ mới được coi là đã hoàn thành.

Trên thực tế, dùng người thứ ba hoặc vật nào đó phá trinh con gái là hiện tượng rất phổ biển trong buổi sơ khai của loài người đã từng lưu hành trong các bộ lạc. Trong một vài bộ lạc nguyên thuỷ Úc, khi các cô gái đến tuổi trưởng thành, thì sẽ được một lão bà được người trong bộ lạc tôn kính phá màng trinh.

Tộc người Shakai vùng Masa, Malaya, người Bataks vùng Sumantra gần Châu Phi xích đạo cũng có tập tục tương tự. Thông qua nghiên cứu các nhà sử học biết rằng, tập tục này đã cho con người hiện nay biết đến một số tin tức, tình hình trạng thái tâm lý và trạng thái hôn nhân của người tiền sử trước khi bước vào xã hội văn minh.

 

image

Những dụng cụ sơ khai của người nguyên thuỷ mà các nhà khảo cổ học tìm thấy.

Vậy ai là người phá trinh gái trinh? Có bộ lạc do cha của người con gái, có nơi lại do bạn bè của chú rể, có nơi lại do người đức cao vọng trọng của bộ lạc. Thời Hy Lạp cổ, người gái còn trinh đứng trước miếu thần hiến dâng cho người đại biểu thần linh trinh tiết của minh. Trong thời trung thế kỷ, các cô gái Châu Âu trong đêm đầu tiên sẽ bị lãnh chúa của vùng chiếm hữu, có thể đó là tàn dư của phá trinh thiếu nữ để lại.

Không ít vùng ở Ấn Độ, trinh tiết của cô gái bị phá bởi một loại đồ gỗ gọi là “ Thần tượng sinh thực khí” ( Dụng cụ sinh đẻ thần tượng). Nhưng, hoàn thành sứ mạng này quyết không thể là chồng cô dâu.

image

Người phá trinh con gái có thể là cha của cô gái hoặc bạn bè của chú rể hay lại là những người đức cao vọng trọng trong bộ lạc.

Từ những hiện tượng đã lưu hành của loài người tiền sử đã phản ánh một dạng tàn dư của quần hôn, cũng phản ánh trong hậu kỳ xã hội loài người, sau khi có chế độ một vợ một chồng, quan niệm trinh tiết mới có cơ hội nảy mầm. Ở trên nói đến một số bộ lạc nguyên thuỷ, cả cô dâu, chú rể hay những người khác trong bộ lạc không chỉ không hề coi trọng trinh tiết con gái, thậm chí còn mang sự sợ hãi sâu xa đối với gái đồng trinh, vì vậy xuất hiện hiện tượng kẻ thứ ba giúp phá trinh.

Các nhà tâm lý học tỏ ra rất khó hiểu đối với hiện tượng hôn nhân này. Đối với người không rõ lịch sử loài người nguyên thuỷ và dân tộc học thì điều này quả là không thể tưởng tượng nổi. Nhưng, phá trinh thiếu nữ chính xác đã từng tồn tại, hơn nữa cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại một cách chân thực nhất tại một vài vùng trên thế giới.

Ký sinh trùng ăn não người


Một khi chui vào não thông qua đường mũi, ký sinh trùng có tên Naegleria fowleri sẽ nhanh chóng kết liễu nạn nhân trong thời gian ngắn nhất.

26082011Ky-sinh-trung-an-nao-nguoi-ky_sinh_trung

Naegleria fowleri, ký sinh có biệt danh ăn não người, đã giết chết nạn nhân mới tại Mỹ trong tháng này. Christian Strickland, cậu bé 9 tuổi đến từ hạt Henrico ở Virginia đã nhiễm ký sinh trùng nguy hiểm trên trong một lần đi câu cá gần đây.

Cậu đã thiệt mạng vì viêm não vào ngày 5.8, theo báo The Richmond Times-Dispatch dẫn lời bác sĩ Keri Hall của Sở Y tế. Cách đó vài ngày, một nạn nhân khác tên Courtney Nash cũng đã đầu hàng trước Naegleria fowleri sau khi tắm táp tại sông St.John ở Florida.

Đài truyền hình địa phương WESH dẫn lời người mẹ Patricia Nash, trước lúc chết Courtney quyết định hiến xác.

Thường được tìm thấy trong những vũng nước tù như ao hồ sông suối, loại ký sinh trên sẽ chui vào đường mũi, len lỏi dần đến tế bào thần kinh khứu giác để tìm đường xâm nhập vào não bộ vật chủ, theo miêu tả của Trung tâm Kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh Mỹ (CDC).

Nếu bị nhiễm Naegleria fowleri, nạn nhân hầu như chắc chắn sẽ bị viêm màng não. Các triệu chứng bao gồm sốt, nôn ói, cổ cứng và nhức đầu ở phần trán.

Chỉ tính riêng ở Mỹ, tổng cộng có 32 ca nhiễm ký sinh trùng trên từ năm 2001 đến 2010, theo phát ngôn viên CDC là Christine Pearson nói với tờ The Lookout.

Nhiệt độ cao là yếu tố chính gây nên tình trạng viêm nhiễm lan rộng, vì loại ký sinh trùng này hoạt động mạnh trong điều kiện ao hồ ấm áp.

Naegleria fowleri cũng có thể tìm thấy trong hồ bơi chưa được xử lý đúng cách hoặc nước máy nhiễm khuẩn. Cần ghi nhận là loại ký sinh trùng này không hoạt động để tấn công người, và chúng chủ yếu ăn vi khuẩn.

Tuy nhiên, khi lọt đến não, chúng nhân lên nhanh chóng và bắt đầu ăn tế bào não để tồn tại.