Trang chủ » Giải trí » Câu Đối

Câu Đối


Nhân nói đến xóm chị em, chúng tôi nhớ đến bạn Hoàng Tích Chu, chủ báo Đông Tây, vốn không biết nghe hát và đánh trống nhưng hay lui tới nơi đây, chỉ vì quen thân với bà Đốc là chủ cô đào, cũng là người không từng biết xử dụng đến sênh phách.
Có người đặt câu chuyện diễu: họ Hoàng giơ roi chầu vừa đánh bốn tiếng trống dạo ý nói
Đông Tây! Đông Tây
Bà Đốc gõ dịp phách nghe lát chát như đối lại:
Vắng Khách! Vắng Khách!
Câu chuyện này khiến họ Hoàng hờn mát mãi, tuy biết rằng bạn chỉ bày chuyện ra để có dịp làm một câu đối dí dỏm …
Câu đối dí dỏm ở chỗ dùng khách là khách hàng hay chú khách đối với tây là phương tây mà cũng là người Pháp; đông là phương đông, dùng nghĩa đông là trạng từ (đông đúc đông đảo) để đối lại bằng chữ vắng, thật là đột ngột .
Khác nào câu cũ:
vôi tôi, tôi tôi
đối với
trứng bác, bác bác (1)
lấy đồng âm khác nghĩa đối nhau, cũng như
Ruồi đậu mâm xôi đậu
Kiến bò dĩa thịt bò.
chữ đậu và chữ bò trên là động từ, dưới là danh từ.
Khó đối hơn nữa là những câu nói lái như
có vài cái vò
mà có người đã đối rất chọi
kia mấy cây mía
***
Lại còn lối cầu kỳ mắc mó nữa là dùng vừa nghĩa vừa chữ kèm nhau thành một câu, như câu của vua Duy Tân:
Đi chi đường đạo sợ cụ
(chi là đi, đạo là đường, cụ là sợ)
mà Nguyễn Hữu Bài đã đối rất tài tình:
Không vô trong nội nhớ hoài
(vô là không, nội là trong, hoài là nhớ)
Mắc mó còn có vế ra như sau:
Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
Chưa ai đối được. Chỉ có một người đối tạm:
Thằng mù nhìn thằng mù nhìn, thằng mù nhìn không nhìn thằng mù.
Gọi là đối tạm mà thôi, vì có ai gọi bù dìn là mù nhìn bao giờ? Vả lại đã là thằng mù thì còn nhìn sao được!
***
Câu đối là lối chơi chữ áp dụng nhiều hơn cả những dịp quan hôn tang tế. Nhiều cô thiếu nữ tài hoa kén chồng cũng bằng câu đối.
Tương truyền rằng vợ ba Cai Vàng khi xưa, hồi còn con gái tên là cô Miên, có ra một vế đối kén chồng:
Cô Miên ngủ một mình.
Cô là một mình, miên là ngủ. Cô Miên lại là tên. Câu này tựa như câu của Hồng Hà nữ sử
Da trắng vỗ bì bạch
mà Cống Quỳnh chịu không đối được: sau này có người đã nghĩ đối
Giấy đỏ viết chỉ chu
Nhà vàng ngồi đường hoàng.
nhưng thảy đều là gượng gạo cả, chỉ có câu sau đây gọi là trúng cách:
Trời xanh màu thiên thanh.
mặc dầu thiên thanh không lên được âm thanh linh động như bì bạch.
Câu cô miên ngủ một mình trên kia ra đã lâu không ai đối được, mãi sau này mới có Cai-tổng Thịnh, tức là Cai Vàng, đến đối:
Tổng Thịnh tóm nhiều đứa
Tổng là tóm, thịnh là số đông, lại cũng là tên.
Vế đối có vẻ bông đùa nhưng lại chỉnh, nên cô Miên ưng thuận lấy ông Tổng Thịnh, dù là phải làm lẽ thứ ba.
– Đến khi Cai Vàng trong một cuộc giao tranh với Pháp, bị trúng đạn bỏ mình, bà ba có câu đối khóc:
Chị thưa chị, một tiếng đùng, kiếp phù sinh ông lớn đã xong rồi, trị mà chi, loạn mà chi, ngơ ngẩn sống thừa, em với chị.
Con ơi con, ba đời dõi, gương thế phiệt chúng bay coi lấy đó, vinh là thế, nhục là thế, ngậm ngùi chết điếng mẹ cùng con …
Hạ đến chữ chúng bay thì rõ là giọng "bà tướng" có cái hùng khí coi thiên hạ như rơm rác.
Có bạn cho đôi câu đối này là của vợ lẽ ông Cung Khắc Đản, xin khi vào đây để tồn nghi.
***
Một vế đối kén chồng nữa.
Một mặt người bằng mười mặt của
câu được chấm là:
Mảnh chồng quan hơn đàn chồng dân
***
Một học trò nghèo, bữa kia phải đem áo đến cầm cho một nhà giàu, không ngờ nhà này lại là một ông quan hồi hưu.
Ông quan trông thấy thương tình, bèn ra một vế đối thử tài:
Quân tử cố cùng, quân tử cùng quân tử cố
(Người quân tử bền lòng lúc cùng khổ, quân tử lúc cùng, quân tử bền lòng – Luận ngữ).
Khó ở chữ mcố, vì đây lấy nghĩa nôm là cầm cố, ở chữ cùng, nghĩa nôm là cùng quẫn.
Anh học trò đối ngay:
Khổng Minh cầm túng, Khổng Minh túng, Khổng Minh cầm.
(Khổng Minh bắt, tha, Khổng Minh tha, Khổng Minh bắt – Tam quốc: Khổng Minh bắt Mạnh Hoạch bảy lần lại tha).
Tài tình ở chữ cầm, lấy nghĩa nôm cầm cố như trên, chữ túng nghĩa nôm là túng tiền, vừa đối chữ, vừa đối nôm.
Vị quan cấp ngay tiền cho, khỏi cần phải … cầm với cố!
***
Lê Thánh Tông, lúc còn là hoàng tử, một hôm dạo chơi trên bờ sông đào vùng Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, tình cờ gặp một cô con gái xinh đẹp đang vo gạo ở dưới bến, liền đọc bỡn một câu:
Gạo trắng nước trong,
mến cảnh lại càng thêm mến cả …
Cô gái tiếp tục vo gạo, khi xong, cắp rá ra về, ngoái cổ lại đọc:
Cát lầm gió bụi,
lo đời đâu đấy hãy lo cho …
Hoàng tử khâm phục lời khuyên, vì bấy giờ đương buổi loạn li, làm thân nam tử hãy lo việc lớn xong đâu đấy, rồi hãy nghĩ tới việc … kia khác.
***
Nhiều khi, gặp vế đối không đối được, phải tìm lối thoát bằng diễu cợt: Nguyễn Hòe đi với bạn vào chơi một chùa, được sư cụ tiếp đãi ân cần, thì mấy ông bạn quý lại quay ra báng bổ nhà chùa. Sư cụ bực mình ra câu đối:
Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ
Nguyễn Hòe cực chẳng đã phải đối bằng diễu cợt để cứu vãn thể diện chung:
Trên sư dưới vãi, ngảnh lưng trở lại, trên vãi dưới sư.
***
Vùng Nghệ An, vị sư kia vốn tính thích thơ phú, mỗi khi gần tết, lại viết câu đối, dán đỏ chóe cả chùa. Ông Hoàng Phan Thái giả làm người học trò nghèo, đến chùa xin ngủ nhờ. Đêm dậy, ông mò vào chỗ cột cửa Tam Bảo, thấy sư đã viết một đôi bốn chữ. Một bên là "Khuyến thiện trừng dâm", đối với "Cứu nhân độ thế". Ông viết nốt vào hai bên thành ra:
Khuyến thiện trừng dâm, con dâu đẻ tháng tư mồng tám?
Cứu nhân độ thế, của ai vay mất một đến mười?
Ông Thái lấy tích tháng tư mồng tám là ngày bụt sinh và câu phương ngôn: "Của bụt mất một đền mười", ý nói: đã khuyến thiện răn dâm, sao lại có ngày bụt sinh; đã cứu người giúp đời sao lại mất một đến mười? Hôm sau sư đọc thấy, giận lắm. Nhân lúc đó đang rót dầu, lại mải trừng mắt nhìn Thái nên để dầu đổ ra cả cái đế đèn, liền lẩm bẩm:
Dầu vương cả đế
Hoàng Phan Thái vừa chạy vừa ngoái lại đối:
Ỉa vãi vào sư
***
Khi còn đi học, Nguyễn Công Trứ cầm một quan tiền đi mua hàng cho thân mẫu, nửa đường gặp bọn đánh đáo rủ đánh ăn tiền, ông đứng lại chơi, rủi ro thế nào thua hết cả, ông tự an ủi bằng hai câu:
Tưởng làm đôi chữ mà chơi vậy
Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa!
Chữ đây, tiếng Nghệ dùng cũng như tiếng đồng (đồng bạc, đồng tiền) ở ngoài Bắc. Quan là quan tiền nhưng lại có thể hiểu là làm quan, cũng như chữ có thể hiểu là chữ nho.
Hai câu trên, năm 1933, có người đã chép gửi cho ông Phạm Quỳnh, bấy giờ vừa từ ghế chủ bút báo Nam Phong nhảy lên ghế thượng thư:
Tưởng làm đôi chữ mà chơi vậy,
Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa?
***
___________________________________________________________
(1) Vôi của tôi, tôi tôi vôi (tôi vôi là đổ nước vào vôi sống quấy lên cho tan nhuyễn). Trứng của bác, bác bác (bác trứng là lấy hột gà quấy lên để đem chưng).

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s